NWSPIBanner

TamThu

powered by FreeFind
Trang chủ


Máy tạo nhịp tim


Điều trị suy tim bằng máy tạo nhịp


Máy tạo nhịp tạm thời


Máy phá rung tự động


Máy thăm do điện sinh lư tim


Cẩm nang cho bệnh nhân


Liên lạc: nwspi@ comcast
net

hoặc
lienlac@
tamthuvn.
com

Tủ sách tư liệu khoa học

Hiệu quả điều trị hội chứng Brugada với máy phá rung

Tài liệu tham khảo

  1. Sacher F, Probst V, Tiesaka Y, Jacon P, et al.  Outcome after implantation of a cardioverter-defibrillator in patients with Brugada syndrome. Circulation 2003; 114: 2317 - 2324.
  2. Mok NS, Chan NY, Chieu ACS. Successful use of quinidine in treatment of electrical storm in Brugada syndrome. PACE 2004; 27(Pt 1): 821-823.
  3. Haissaguerre M, Extramiana F, Hocini M, Cauchemez B, et al. Mapping and ablation of ventricular fibrillation associated with long-QT and Brugada syndrome. Circulation 2003; 108: 925-928.
  4. Suzuki H, Torigoe K, Numata O, Yazaki S. Infant case with a malignant form of Brugada syndrome.  J Cardiovasc Electrophysiol 2000; 11: 1277-1280.
  5. Alings M, Dekker L, Sadee A, Wilde A. Quinidine induced electrocardiographic normalization in tow patients with Brudaga syndrome. PACE 2001; 24: 1420- 1422.
  6. Hreybe H, Bedi M, Ezzedine R, Barrington W, et al. Indications for internal cardioverter defibrillator implantation predict time for first shock and the modulating effect of beta blockers. Am Heart J 2005; 160: 1064e1-1064e5.
  7. Belhassen B, Glock A, Visking S. Efficacy of quinidine in high-risk patients with Brudaga syndrome. Circulation 2004; 110: 1731-1737.
Sacher [1] tóm tắt theo dơi 220 BN (183 nam) từ năm 1993 đến 2005 tại 14 trung tâm tim mạch. Không có BN nào tử vong! Tất cả BN đều là tưp 1 Brugada. 18 (8%) BN được cấy máy sau một cơn đột tử được cứu sống, 88 (40%)  sau những cơn ngất, 99 (45%) sau xét nghiệm điện sinh lư dương tính, và 15 (7%) vi gia đ́nh có quá tŕnh đột tử hoặc do những cơn loạn nhịp nhanh thất thoáng (dưới 30s). Thời gian theo dơi là 38 ±27 tháng. Đa số BN (196)- được cấy máy ICD 1 buồng.

BrugadaOutcome

Trong nhóm 18 BN đột tử cứu sóng, 4 BN (22%) được máy cứu sống với sốc. Tỷ lệ 22% trong ṿng 3 năm, hơi thấp hơn tỷ lệ các BN được cấy ICD sau một lần đột tử được cứu sống v́ lư do loạn nhịp nhanh (~ 28%) [6]. Trung điểm (median) thời gian từ khi cấy máy đến sốc đầu tiên là 2,5 tháng (từ 2 đến 7,5 tháng). Thời gian này ngắn hơn thời gian các BN loạn nhịp nhanh [6]. Khoảng thời gian giữa các sốc là 5,5 tháng (1 - 10,75 tháng). 

Nhóm BN bị ngất có tỷ lệ điều trị khoảng 1/2 nhóm đầu và thời gian sốc đầu tiên là 24 tháng (6,5 - 48). Các BN nhóm 3 (không có triệu chứng) th́ tỷ lệ điều trị lại được cắt 1/2. 

Brugada1stShock

Trong số 18 BN bị sốc, số sốc trung b́nh là 10 ± 15 sốc (điểm trung là 4, dải từ 1 đến 65). 7 trong số 18 BN bị sốc trong thời gian theo dơi 38 tháng bị những cơn băo sốc, nghĩa là ≥ 3 đợt sốc trong ṿng 24 giờ. Các BN này được điều trị bằng quinidine [2, 4, 5] và trong trường hợp không hiệu quả thi dùng sóng cao tần đốt vùng xuất phát các ngoại tâm thu tạo nên các băo sốc đó. Nhờ bị nhiều ngoại tâm thu nên BS có thể dùng xét nghiệm điện sinh lư để kiếm được nguồn gốc các ngoại tâm thu, thường là vùng gần van động mạch phổi (RVOT).

Ở VN, các BN Brugada tưp I chỉ được chỉ định cấy máy trong trường hợp đă trải qua một cơn đột tử, hoặc đă có nhiều cơn ngất không kiếm được nguyên do và có người thân trong gia đ́nh đă đột tử. V́ vậy chúng ta chỉ cần chú ư đến hai nhóm đầu trong bài của Sacher. 

Nhóm BN đột tử cứu sống cần cấy ICD v́ nguy cơ đột tử cao. Tuy nhiên nếu trong suốt đời máy (khoảng 7-8 năm) mà không bị sốc, th́ không biết có nên tiếp tục hay không? Chắc khi tới thời điểm đó chúng ta sẽ có câu trả lời. 

Nhóm BN có quá tŕnh ngất có nguy cơ đột tử thấp trong năm đầu tiên. Trong nghiên cứu th́ trong số 88 BN này, có 6 BN (7%) trong thời gian theo dơi 39,5 tháng bi ngất. Khi điều tra kỷ th́ có 6 do hệ thần kinh (neurocardiogenic seizure), 1 là do động kinh (epileptic). Vậy có nên điều trị bằng quinidine hay không? Belhassen [7] đề nghị dùng quinidine va theo dơi mức độ quinidine trong máu và làm EP 5 năm một lần. Nếu EP dương tính hay BN không chịu được quinidine, th́ cần cấy ICD. Trong số 25 BN Belhassen theo dơi, rốt cuộc 9 BN (36%) được cấy ICD.

Tỷ lệ sự cố khá cao: 62 BN (28%). Về phương diện điều trị lầm có 45 ca. Nguyên do:sự cố với dây điện cực, nhịp nhanh trên thất (25 BN), nhạy cảm sóng T (T-wave oversensing) (10 BN). Nhạy cảm sóng T thường xảy ra v́ sóng QRS quá thấp. Đây là một điêu BS cần lưu ư khi cấy máy. Để tránh điều trị lầm do nhịp nhanh trên thất, Sacher đề nghị dùng vung VF khi nhịp > 210 ckp. Có thể có một vùng VT theo dơi (monitoring) không có điều trị với nhịp > 180 ckp.



 


Bạn có thể liên lạc với chúng tôi qua e-mail ở địa chỉ nwspi@comcast.net hoặc lienlac@tamthuvn.com  . Chúng tôi sẽ trả lời  bạn trong thời gian sớm nhất có thể. Cám ơn bạn đă ghé thăm trang web của Nortwest Signal Processing.


Số lượt truy cập:visitor


Cập nhật:   5/22/2008                           Copyright NWSPI 2008