Điện tim
Về phương diện máy 2 buồng, một chức năng quan trọng là ghi lại
điện
tim mỗi khi có "loạn nhịp nhanh". Nếu đúng là một
cơn loạn nhịp
thì bác sĩ cần biết vì sẽ thay đổi điều trị:
- nhịp nhanh thất: thêm thuốc chống loạn nhịp; nếu kéo
dài thì có thể nên thay với máy phá rung
- rung nhĩ, cuống động nhĩ: thêm thuốc chống loạn nhịp,
thêm thuốc chống đông hoặc aspirin tùy theo chỉ số CHADS2 hoặc CHA2DS2-VASc để tránh đột
quỵ.
Để chẩn đoán chính xác, cần ghi lại 2 kênh điện tim với đoạn trước loạn
nhịp,
đoạn tiền sử (pre-onset).
Các máy Biotronik khi mở chức năng ghi lại các đoạn điện tim
(10 s dài) với tiền sử (khoảng 7 s mỗi đoạn)
không ảnh hưởng thời gian hoạt động.
Nhìn trong các
bảng so sánh
kỹ thuật, chúng ta thấy máy Medtronic cũng
có thể ghi lại điện tim nhưng so với máy Biotronik có các yếu điểm sau
đây
- Với máy 2 buồng, máy Medtronic chỉ ghi lại được 1
kênh kép (cộng sóng nhĩ và sóng thất lại), không thể ghi lại 2 kênh
riêng biệt như với máy Biotronik. 1 kênh kép không giúp BS phân tích
cơn "loạn nhịp" dễ dàng như với 2 kênh.
- Chẳng những thế, máy Medtronic không được thiết kế đề
ghi lại tiền sử điện tim. Khi ghi lại tiền sử điện tim, sẽ rất hao pin.
Theo manual, thi trong máy AT500 (cũng tương đương các máy Sensia) ghi
lại tiền sử điẹn tim sẽ tốn máy thêm 9 ngày mỗi tháng (giảm 23,1% thời gian hoạt động). Như vậy thời
gian hoạt động máy SEDR01 chỉ còn 6,9 năm (trước 2009) và 7,8 năm, và máy SEDRL1 chỉ còn 9,7 năm.
- Nếu đúng như Cty Medtronic đề nghị trong máy Sensia là ghi
lại điện tim không quan trọng, tại sao đến thế hệ Ensura là máy tạo nhịp
cao cấp nhất của Medtronic năm 2010, lại quảng cáo là máy có thể ghi
lại được 14,5
phút 2 kênh điện tim với 5 s tiền sử mỗi đoạn?
Chẳng lẽ BN máy cao cấp cần trong khi BN máy thường không cần? Lý do
thật là tại thiết kế các máy tạo nhịp Sensia rất hao pin khi ghi lại
tiền sử điện tim và máy không có đủ bộ nhớ để lưu lại 2 kênh riêng biệt!
Máy St Jude thì chỉ có các máy đời mới mới có thể ghi lại điện tim. Các
máy như Victory sẽ ghi lại đoạn điện tim với 50% tiền sử, nhưng mặc
định chỉ ghi lại 1 kênh, chứng tỏ là ghi điện tim cũng rất hao pin. Vì
Cty St Jude không tiết lộ thời gian hoạt động của máy tạo nhịp, và càng
không nói rỏ mức giảm thời gian hoạt động khi ghi lại 2 kênh điện tim,
nên chúng tôi không thể so sánh ở đây được. Trong một tài liệu (St Jude
Product Performance Report), Cty St
Jude ghi là máy Accent DR (thế hệ 2009, kích thước 46x52x6 tương đương
Victory XL DR 44x52x6, do đó dùng cùng loại pin?) có thời gian hoạt
động là 9,2
năm khi ghi lại 1 kênh điện tim với 50% tiền sử. Như vậy là máy Victory
XL DR, thế hệ
2005, đang được bán ở VN, khi ghi lại 2 kênh điện tim sẽ có thời gian
hoạt động thua máy Talos DR! Ngoài ra Cty St Jude khi công bố thời gian
hoạt động của máy Accent cũng đã giáng tiếp công nhận là ghi lại điện
tim với tiền sử là cần thiết!
Cuối đời máy
Ngoài ra nếu kể thời gian từ khi máy vào ERI (pin yếu
cần
thay máy) đến EOS (máy ngưng hoạt động) thì các máy Medtronic và St
Jude chỉ có 3 tháng, trong khi máy Biotronik có đến 8 tháng (2 buồng)
và 9 tháng (1 buống). Như
vậy
có thể kể là máy 2 buồng Talos DR có thể hoạt động thêm 5 tháng nữa sau
ERI, so với các máy Medtronic và St Jude.
Về phương diện an toàn, thì sau khi đã mang máy Medtronic và St Jude 7
năm (1
buồng), bạn cần đi khám thường xuyên cách 3 tháng.
Với máy Talos bạn chỉ cần đi khám cách 6 tháng sau 8
năm, và ngay sau khi BS khám phá là máy đã vào thời kỳ ERI,
bạn cũng còn có thời gian >2 tháng trước khi máy ngưng hoạt
động!
Pin
So với các máy tạo nhịp 1 buồng của Medtronic (pin 0,9 Ah)
và
St Jude (0,95 Ah), máy 1 buồng của Biotronik (1,3 Ah) có ưu
điểm +44% và +37% nhờ điện lượng pin lớn (xem hình dưới đây). Đối
với máy 2 buồng thì ưu
điểm này hơi khác một chút vì máy Medtronic dùng pin 1,3 Ah, trong khi
sự khác biệt với máy 2 buồng St Jude vẫn
là +37%.
- 1 buồng: Bio: 1,3 Ah; Med: 0,9 Ah; SJ: 0,95 Ah
- 2 buồng: Bio 1,3 Ah; Med 1,3 Ah; SJ 0.95 Ah
Điều chỉnh biên độ xung
tự
động
Một yếu tố ảnh hưởng thời gian hoạt động là
chức năng điều
chỉnh biên độ xung thất
tự động
. Ngoại trừ máy Biotronik Talos S, tất
cả các
máy khác đều có chức năng này. Theo Biotronik, tăng biên độ xung thất
từ
1,0V (biên độ thường gặp với chức năng điều chỉnh biên độ xung tự động)
lên 2,4V (biên độ thường dùng nếu không có điều chỉnh tự
động) giảm thời gian hoạt động máy Talos SR (1 buồng) từ 11,4
năm xuống còn 10,75 năm, tức giảm đi 6%. Chúng tôi sẽ dùng tỷ lệ này
khi so sánh máy Talos S và máy Philos II S (có tự động).
Nhưng không phải các chương trình điều chỉnh biên độ xung tự động ngang
nhau. Các máy Biotronik và St Jude đều kiểm tra hiệu quả của xung mỗi
chu kỳ tim ngay sau khi phát xung thất, và nếu cần, phát xung an toàn.
Do đó mức an
toàn máy
sẽ dùng chỉ cao hơn ngưỡng đã tìm được là 0,25V-0,5V. Sự khác biệt giữa
0,25V và 0,5V không quan trọng lắm, vì với độ an toàn thấp, 0,25V, do
thay đổi ngường trong ngày, ngưỡng có thể thay đổi vượt quá +0,25V và
máy sẽ phải phát xung an toàn rồi kiểm tra lại ngưỡng, hao
pin.
Máy Medtronic thì chỉ
kiểm tra 2 lần trong ngày và không kiểm tra sau mỗi xung, nên cần dùng
mức an toàn 2X (đây là thông số mặc định), nghĩa là với
ngưỡng 1 V, máy sẽ tạo nhịp với biên độ 2 V (2V là biên độ tối thiểu
khi dùng chức năng tự động trong các máy Medtronic). Mức an toàn 2X hầu
như là
mức các bác sĩ thường dùng khi máy không thể điều chỉnh biên độ xung tự
động được. Như vậy là với máy Medtronic, có biên độ xung tự động cũng
hầu
như là không có! Yếu tố này giải thích tại sao trong phần trên các biên
độ xung khác nhau.
Ở nhĩ thì các máy Sensia có thể điều chỉnh biên độ xung tự động, vẫn
với
mức an toàn là 2X. Các máy
Biotronik thì đến dòng Estella/Evia mới có biên độ nhĩ tự động, với mức
an toàn mặc định chỉ 1V, thấp nhất trong các chương trình điều chỉnh
biên độ xung nhĩ. Các máy St Jude thì mãi đến dòng Zephyr (chưa có ở
VN) mới có điều chỉnh biên độ xung nhĩ với mức an toàn >1,7X
ngường.
Vì không tạo nhịp thành công ở nhĩ không nguy hiểm đến bệnh nhân, nên
tất cả các chương trình điều chỉnh biên độ xung nhĩ không có kiểm tra
sau mỗi xung, như ở thất, hầu tránh hao pin, mà chỉ kiểm tra một vài
lần, thường 2 lần, trong ngày.
Tóm tắt về thời gian hoạt
động
- Máy 1 buồng, dùng máy Biotronik có điều chỉnh
biên
độ xung thất làm mốc: Philos II S, Talos SR.
- Biotronik: Talos S 0,94; Philos II S 1,00; Effecta S:
1,32 (>15 năm)
- Biotronik: Talos SR:
1,00, Estella SR: 1,32
- Medtronic 2009 trở đi: Sensia S/SR: 0,81
- St Jude: Victory SR 0,88; Verity SC/ SR
<0,88 ... dựa trên điện lượng pin.
- Máy 2 buồng,
dùng máy Biotronik Talos D/DR làm mốc
- Biotronik: Talos D/DR 1,00; Effecta D 1,27; Estella DR
1,27; Evia DR 1,27.
- Medtronic 2009 trở đi: Sensia D/DR 1,05 không
ghi lại tiền sử điện tim, 0,80 khi ghi lại tiền sử điện tim
- Medtronic Sensia DRL1 1,3 không ghi lại tiền sử điện tim, 1,0 khi ghi lại tiền sử điện tim.
- St Jude: Victory DR 0,88; Verity D/ DR
<0,88 - không ghi lại điện tim.
Ở trên
chúng tôi đã cho là máy Victory dùng pin hữu hiệu như máy Talos, nên
chỉ
số chỉ là dựa trên điện lượng pin. Điều này không nhất thiết đúng.
Trở
kháng và ngưỡng tạo
nhịp
Một yếu tố khác ảnh hưởng thời gian hoạt động là ngưỡng và trở kháng
điện cực tạo nhịp.
Ngưỡng thấp và trở kháng
cao sẽ giảm dòng điện pin.
Về phương diện này, quan trọng là diện tích điện cực đầu của dây
điện cực. Vì đa số dây điện cực được cấy là loại vít xoắn, chúng ta chỉ
nên chú ý đên các dây này. Nhìn bảng so sánh, chúng ta thấy là các thế
hệ dây mới có diện tích điện cực đầu là: Biotronik 4,5 mm2, Medtronic
4,2 mm2, St Jude 8-8,5 mm2. Như vậy là trở kháng các dây điện cực St
Jude thấp hơn các dây Biotronik và Medtronic, và do đó hao pin hơn
Khối
lượng máy
Có
nhiều người cho rằng một yếu tố khác ngoải thời gian hoạt động là kích
thước máy. Trong hình dưới đây là hình dạng các máy
Hình dạng các máy tạo nhịp.
Hàng
1: máy Medtronic. Máy 1 buồng dùng pin 0,9 Ah; máy 2 buồng
dùng pin
1,3 Ah. Bên phải là 2 loại máy chồng lên nhau để so
sánh. Các máy Medtronic dầy 7,5 mm so với 6 mm với các máy
khác.
Hàng
2: máy St Jude. Có 3 loại pin: 0,55 Ah (bên trái) 0,95 Ah (giữa), và
0,35 Ah (cho BN nhi, không có trong hình). Phân biệt là tên máy có chữ
XL hay không, thí dụ Victory XL DR (0,95 Ah) và Victory DR (0, 55 Ah).
Khi chồng 2 loại máy lên nhau sự khác biệt rất rõ ràng! Ở VN hình như
không phân phối máy với pin 0,55Ah.
Hàng 3:
máy Biotronik. Biotronik chỉ dùng pin 1,3 Ah, nên vỏ máy giống
nhau, trừ đầu plastic để cắm phích dây điện cực.
Khối lượng máy thì như sau
- Biotronik (dầy 6 mm): Talos S/SR 11 cc, Talos D/DR 12
cc
- Biotronik dòng mới (dầy 6.5 mm): Efecta S/
Estella SR 10 cc, Effecta D/Estella DR/Evia DR 11 cc
- Medtronic (dầy 7,5 mm): Sensia SR 9,7 cc, Sensia DR 12,1 cc; Sensia DRL1/Adapta DRL1 13,1 cc.
- St Jude (dầy 6 mm): Verity XL SR 10,4cc, Verity XL DR
11cc
Lý
do máy Sensia DR trong hình trên có vẻ nhỏ hơn máy Biotronik là vì độ
dầy
lên đến 7,5 mm, dầy hơn các máy Biotronik và St Jude đến 1,5 mm! 1,5 mm
nghĩ là nhỏ, nhưng khi máy được cấy dưới da hoặc dưới cơ, thì sự khác
biệt
độ u
lên đáng kể! Kinh nghiệm là diện tích máy không quan trọng lắm, mà quan
trọng là độ dầy. Vào cuối thập niên 1990 các công ty máy tạo nhịp đều
cố gắng giảm độ dầy xuống còn 6 mm. Bề dầy rất quan trọng với các người
gầy vì sẽ
quyết định vị trí cấy máy: dưới da hay dưới cơ (u lên cao hơn).
Bề dầymáy có ảnh hưởng tâm lý rất quan trọng đối vợi bạn. Bạn sẽ
quên đi là mình có mang máy, và nhờ thế có một cuộc đời bình thảng hơn!
Điện
tim
Tại sao cần ghi lại điện tim ? Chúng tôi đã dùng điện tim để chẩn đoán
rung nhĩ, loạn nhịp thất và quan trọng hơn hết khám phá là các thông số
máy không chuẩn có ảnh hưởng đến điều trị. Các kỹ thuật viên công ty
Tâm Thu sẽ kiểm tra các đoạn điện tim này, và
sẽ dùng để điều chỉnh các thông số máy, hoặc báo bác sĩ cần điều chỉnh
điều trị thuốc.
Một thí dụ là rung nhĩ. Rung nhĩ có thể xảy ra do tuổi của bạn Xác suất
rung nhĩ tăng với tuổi thọ (Feinberg,
Arch Intern Med
1995): 2,3% ở tuổi 40, 5,9% ở 65 tuổi. Ngoài ra, với máy tạo nhịp 1
buồng, và ngay cả máy tạo nhịp 2 buồng, xác suất sẽ tăng nếu có tạo
nhịp nhiều ở thất. Tại sao chúng tôi quan tâm rung nhĩ? Vì rung nhĩ có
thể đưa đến
đột
quỵ. Do đó khi khám phá
rung
nhĩ bác sĩ cần phải ghi
toa thuốc cho bạn uống hoặc aspirin hoặc thuốc chống đông tùy
theo chỉ số
CHADS2
hoặc
CHA2DS2-VASc.
Vì uống thuốc chống đông rất phức tạp cần phải đo chỉ sô
INR
thường xuyên hầu tránh quá liều với nguy cơ xuất huyết cao, nên bác sĩ
cần biết chắc chắn là bạn có rung nhĩ trước khi cho toa uống warfarin
(coumadin). Lý do cần kiểm tra điện tim là tại "nhịp nhĩ" cao nhiều khi
là do máy đo lầm viễn trường sóng thất mà tưởng là sóng nhĩ. Với 2 kênh
điện tim với tiền sữ, bác sĩ có thể kiểm tra "rung nhĩ" nhanh chống!
Tương
thích MRI

Các bạn có thể đọc bài về
chụp MRI
tại website này. Ngoài ra có bài so sánh
MRI
và CT. Có
bài so
sánh các máy tạo nhịp tương thích MRI.
Theo các thông tin chúng tôi có, thì hiện nay ở VN có các bộ máy
Medtronic Surescan Advisa DR + 5086MRI, và các bộ máy
Biotronik Estella SR và DR, Evia DR. với dây Safio và Solia. Tất cả các
máy này đều có chương trình MRI trong máy chương trinh. Ngoài ra
Medtronic còn có máy Surescan Ensura DR. Công ty St Jude thì có máy
Accent MRI SR và DR, nhưng các máy này chưa về đến VN năm 2011.
So với các máy khác, máy Advisa có thêm chức năng điều trị nhịp nhanh
nhĩ bằng những đợt xung. Nhưng chức năng này không quan trọng lắm vi
các nhịp nhanh thất tốt nhất là nên đi đốt ổ loạn nhịp, còn rung nhĩ
thì máy không công hiệu phá các cơn này. Chức năng để tránh bị rung nhĩ
dùng chương trính tạo nhịp ở nhĩ Atrial Preference Pacing. Chương trình
này theo nghiên cứu Puglisi năm
2003 và
2008 thì không
công hiệu bằng
CLS
trong máy
Evia DR. Nhưng vì có chức năng điều trị này nên mạch điện phức tạp hơn
đưa đến thời gian hoạt động bị giảm. Máy Ensura là máy Advisa đã bị
giới
hạn phần mềm để bỏ đi chức năng điều trị nhịp nhanh nhĩ. Như vậy Ensura
là một máy tạo nhịp thuần túy.
Các máy Advisa, Ensura và Evia được xem là máy cao cấp nên giá sẽ
cao. Về thời gian hoạt động thì máy Evia dài nhất. Chức năng tạo nhịp
CLS trong Evia được xem là sinh lý vì nhịp thay đổi khi bạn vận động và
ngay cả khi bạn suy nghĩ nhiều.
Dây Safio S (7F) và Solia S
(6F) của Biotronik nhỏ hơn và mềm mại hơn dây 5086MRI (8F) của
Medtronic. Ngoài ra có dây Solia ST (6F) là loại dây vói cố định mỏ
neo, nhiều BS thích dùng hơn là các dây vít xoắn.
Về phương diện
các máy với giá bình dân, chỉ cao hơn máy thường một chút, thì hiện nay
chỉ có máy Estella SR và Estella DR của Biotronik.
So với máy Advisa/Ensura DR có chương trình tạo giảm tạo nhịp thất MVP,
các máy Evia/Estella DR có 2 chương trình là
IRS+ và Vp Suppression.
Trong các chương trình giảm tạo nhịp thất,
IRS+ công hiệu giảm
suy tim tốt nhất.
Vp Suppression là một chương trình tương tự MVP nhưng không bị một số
các giới hạn của MVP, và chỉ nên dùng với các BN có nhịp thất đều. Có 2
chương trình giảm tạo nhịp thất giúp BS tối ưu hóa điều trị của bạn dễ
dàng hơn.
Ngoài các máy trên, Biotronik còn có máy Effecta S và
Effecta D là máy 1 buồng và 2 buống không có nhịp thích ứng đạt MR
conditional nhưng không có chương trình điều chỉnh trong máy chương
trình, nên sẽ phải phiền bác sĩ phải điều chỉnh máy trước khi chụp MRI.
Nhưng an toàn như các máy Estella với nhịp thích ừng. Các máy này có
thời gian hoạt động tương tự máy Estella là >15 năm cho máy 1
buống,
và >12 năm cho máy 2 buồng.
Tài liệu tham khỏao
Các tài liệu khác
Medtronic. Adapta/ Versa/ Sensia/ Relia
Pacemaker Reference Guide. 2009
Medtronic. AT500 Pacing System Follow-up protocol, Cardiac Rhythm Disease
Management Prodct Performance Report. 2009, Issue 61, p.
148.
St Jude Medical. Cardiac
Rhythm Management Division - Product Performance Report.
April 2011, p. 4.
Medtronic. Advisa DR
MRI Surescan A3DR01- Clinician Manual. 2010
Medtronic. Ensura DR
MRI Surescan EN1DR01- Clinician Manual. 2010
Medtronic. CaptureFix
MRI Surescan 5086MRI- Technical Manual. 2009
St Jude Medical. Accent
MRI DR - Product Specifications. 2011
St Jude Medical. Tendril
MRI - Product Specifications. 2011
Bạn
có thể liên lạc với chúng tôi
qua e-mail về lienlac@tamthuvn.com.
Chúng
tôi sẽ trả lời bạn trong thời gian ngắn nhất. Cám ơn bạn đã ghé thăm
trang web của Tâm Thu và Northwest Signal Processing.
Số lượt truy cập:
Cập
nhật:23/10/2011
Copyright NWSPI 2011