
![]() |
|
|
Máy tạo nhịp tim![]() ![]() Máy
tạo nhịp: 2/3
thân máy là pin! Các
máy trong trang
web này đều dùng pin 1,3Ah để bảo đảm hoạt động
lâu dài 7-10 năm. Các máy
nhỏ thường phải hy sinh thời gian hoạt động.
![]() Máy tạo nhịp với hai dây điện cực ở nhĩ và thất phải |

Tạo
nhịp hai buồng tim phải.
Lưu
ý xung (màu xanh) phát ra ở đầu điện
cực trước khi nhĩ và
trước khi thất co bóp.
Các
máy tạo
nhịp tim Biotronik ở Việt Nam
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| Talos S máy cơ bản 1 buồng | Talos SR máy 1 buồng với nhịp thích ứng | Talos D máy 2 buồng | Talos DR máy 2 buồng với nhịp thích ứng |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| Talos SLR máy 2 buồng chỉ cần 1 dây điện cực | Cylos DR máy 2 buồng cao cấp, trị rung nhĩ | Philos II S máy 1 buồng cao cấp | Evia DR máy 2 buồng cao cấp, giúp điều trị rung nhĩ |
Mục
lục
Giới thiệu máy tạo nhịp tim
Bài mới được cập nhật ... 7/02/2010
Các bệnh viện ở Việt Nam cấy máy tạo nhịp Biotronik
Quy chế bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuổi
Giới thiệu máy tạo nhịp (điều trị nhịp tim chậm)
Bảng I: các ký hiệu NASPE/BPEG.
|
Buồng tạo nhịp |
Buồng
O: nhận cảm |
Đáp
ứng |
Nhịp
thích ứng |
Điểm
tạo nhịp
phụ (thông thường là thất trái) |
|
O: không có
A:
nhĩ V:
thất D:
cả hai
buồng S:
đơn (nhĩ
hay thất) |
O: không có A:
nhĩ V:
thất D:
cả hai
buồng S:
đơn (nhĩ
hay thất) |
O: không có I:
ức chế T:
khởi
kích D:
I+T |
O: không có. Thường không ghi.
|
O: không có. Thương không ghi.
V:
thất D:
cả hai
buồng |
|
A:
atrium; V:
Ventricle; S: Single, D: Dual |
I:
Inhibit;
T: Trigger; D: Dual |
R:
Rate
modulation |
|
|
Các
máy thường được ghi là SSI, SSIR, DDD,
DDDR, SLR. SS có nghĩa là máy chỉ
có thể kích thích và nhận
cảm một buồng, nhĩ
hoặc thất, tùy bác sĩ cấy dây điện cực
vào buồng nào của tim phải. SL viết tắt
cho Single Lead, chỉ dùng một dây điện cực.
Đây là loại máy VDD dùng với
loại
dây điện cực đặc biệt có thể tạo nhịp ở thất
và nhận cảm ở cả hai buồng. Các
máy hai buồng có thể lập trình xuống
cấp được, nghĩa là máy DDD có thể
dùng
theo phương cách VVI, AAI, VDD được. Lý do
máy hai buồng được ghi là DDD vì
máy
sau khi nhận cảm nhịp nội tại ở nhĩ, sẽ ức chế tạo nhịp ở nhĩ (chữ I),
sau đó sẽ
bắt đầu một thời gian sẽ đưa đến tạo nhịp ở thất (trigger –
chữ T). Tuy nhiên nếu
nhận cảm được nhịp nội tại ở thất, thì máy sẽ ức
chế tạo nhịp ở thất (chữ I).
Vì máy dùng cả hai chức năng I
và T nên ký hiệu đáp ứng la
D. Với phương thức
DDD, nhĩ là chủ, nghĩa là các chu kỳ
thời gian bắt đầu ở nhĩ, nhận cảm hay tạo
nhịp. Các máy còn có thể
lập trình để hoạt động theo phương cách DDI. Với
DDI,
thất là chủ. Các chu kỳ thời gian bắt đầu ở thất.
Phương thức DDI dùng khi tim
bị rung nhĩ, nên vô hiệu hoá
các tín hiệu ở nhĩ. Máy có
thể tạo nhịp ở nhĩ, nếu
trong chu kỳ không nhận cảm được do các
sóng ở nhĩ quá thấp.
Các
loại máy hai buồng DDD, DDDR, VDDR, nhờ phối
hợp co bóp cả hai buồng tim nên hữu hiệu hơn loại
máy một buồng VVI/VVIR. Loại
máy VDDR thích hợp cho những người bệnh với
nút xoang tốt nhưng bị blốc ở nút
nhĩ thất hay ngay dưới ở bó His (xem bài : Phương cách tạo
nhịp tối ưu với blốc nhĩ-thất). Nhờ chức năng nhịp
thích ứng, trong trường
hợp rung nhĩ và máy không
còn dùng nhịp nhĩ được, máy
có thể thay đổi nhịp khi
người bệnh hoạt động. Loại máy DDD thích hợp cho
người bệnh với nút xoang tốt
và bị blốc ở nút nhĩ-thất hay dưới đó,
hoặc với người bệnh bi suy nút xoang.
Tuy nhiên trong trường hợp sau, nhịp sẽ không thay
đổi được. Loại máy DDDR
thích hợp cho tất cả các trường hợp nhịp chậm.
Tuy nhiên, với người bệnh cao niên hay sức khỏe
kém, bác sĩ thường chỉ định loại máy
một buồng để rút ngắn thời gian cấy máy, hoặc
ngăn ngừa những biến chứng có thể xẩy ra về sau ... như
dây nhĩ bị bật khỏi vị trí ban đầu.
Theo các nghiên cứu mới, các máy hai buồng cần dùng nhịp nội tại thất tối đa thay vì tạo nhịp ở thất, hầu giảm hiểm họa rung nhĩ và suy tim. Các máy hai buồng Biotronik (VDDR, DDD, DDDR) có chức năng thời gian nhĩ-thất trễ (AV hysteresis) để tận dụng nhịp nội tại, và các phương thức tìm kiếm nhịp nội tại ở thất như AV repetitive hysteresis (trong một vài chu kỳ sau khi mất nhịp nội tại, cố gắng tiếp tục tìm nhịp nội tại), AV scan hysteresis (sau khi tạo nhip 180 chu kỳ liên tục, trong một vài chu kỳ sẽ cố gắng kiếm nhịp nội tại)... hãy xem bài “Máy tạo nhịp hai buồng: những thông tin mới”
VVI/
AAI
(Biotronik
Talos
S) -
đây là loại căn bản. Máy sẽ đo điện
trong tim ở tâm thất phải, và nếu không
đo được một kích thích tự nhiên
thì sẽ
tự động kích thích tâm thất phải.
Các
máy Talos S của Biotronik còn có bộ
phận chứa quá trình nhịp
tim để bác sĩ dùng trong việc điều chỉnh nhịp cho
thích hợp với hoạt động của bệnh
nhân.Trọng
lượng: 24 gram.
VVI/AAI
(Biotronik Philos
II
S) – Máy Philos II S là máy
Talos S được
nâng cấp
với một số chức năng. Đầu tiên là chức năng tự
động điều
chỉnh biên độ xung
thất. Chức năng này giúp máy
có thể hoạt
động an toàn với biên độ xung thấp. Nếu
xung không khữ cực thành công,
thì máy
sẽ phát một xung an toàn (có một số
máy
các công ty khác, tuy được quảng cáo
là
có chức năng tự động điều chỉnh biên độ xung,
nhưng
không có phát được xung an
toàn ...
nên thật sự không thể hoạt động với biên
độ thấp
và vì vậy không tiết kiệm được pin như
với
máy Biotronik), và nếu
tình
trạng tiếp tục thì máy sẽ đo lại ngưỡng tạo nhịp
và tự điều chỉnh biên độ xung. Nhờ
vậy thời gian hoạt động có thể kéo dài
hơn
máy Talos S. Chức năng thứ hai là
san bằng nhịp. Chức năng này quan trọng nếu người bệnh bị
rung
nhĩ với dẫn
truyền xuống thất, hay bị những đợt ngoại tâm thu.
Thông
thường với rung nhĩ,
nhịp thất sẽ không đều, tạo nên khó
chịu. Với san
bằng nhịp, máy sẽ đem nhịp
thất từ từ xuống, có thể giúp người bệnh
không
có cảm giác khó chịu do nhịp
thay đổi nhanh. Chức năng thứ ba là gia tăng số đoạn điện
tim
được lưu lại
trong máy từ 4 lên đến 10 đoạn, giúp
trong chẩn
đoán khi bác sĩ đang tìm kiếm
liều thuốc thích hợp cho điều trị loạn nhịp. Có
thể cấy
máy Philos II S ngay từ
đầu, hay dùng máy Philos II S để nâng
cấp
máy VVI khi thay máy. Trọng lượng: 26
gram.
Với các em bé dưới 10 Kg, vì cần dùng dây điện cực thượng tâm mạc, máy Philos II thích hợp hơn là máy Talos S/SR vì biên độ xung có thể tự động điều chỉnh lên đến 6,4V, thay vì bị giới hạn ở mức 3,6V. Các điện cực thượg tâm mạc có thể có ngưỡng kích thích cao, nên cần xung tạo nhịp với biên độ cao.
VVIR/
AAIR
(Biotronik
Talos SR) - tương tự
như loại VVI, nhưng nhịp độ kích thích thay đổi
tùy theo những sự hoạt động của bệnh nhân.
Thí dụ như khi ngồi dậy thì nhịp sẽ
cao hơn là khi nằm. Khi đi thì nhịp sẽ cao hơn
là khi đứng yên. Loại máy
này
có
thể dùng trong bất cứ trường hợp nào thay
vì loại máy VVI. Máy Talos SR
có chức
năng tự động điều chỉnh biên độ xung thất. Các
máy Talos SR của Biotronik còn
có bộ phận chứa quá trình nhịp tim để
bác sĩ dùng trong việc điều chỉnh nhịp
cho thích hợp với hoạt động của bệnh nhân. Loại
máy này thường được dùng thay
vì loại VVI cho những bệnh nhân còn
trong độ tuổi hoạt động nhiều. Trọng lượng:
24 gram.
DDD
(Biotronik
Talos
D)-
đây là loại máy vừa đo
và kích thích ở tâm nhĩ lẫn
tâm thất. Với loại
máy này, thời gian của phẫu thuật cấy
máy lâu hơn loại máy một
buồng vì cần hai dây dẫn điện. Cách
điều
chỉnh máy cũng tương đối phức tạp hơn. Nhưng về
phương diện tim mạch thì
loại máy này tốt hơn hai loại trên
và
máy cũng đòi hỏi các bác sĩ điều trị cần phải có
kinh nghiệm nhất định. Nếu nút xoang của bệnh nhân
thông thường tốt thì loại máy
này rất
thích hợp vì dùng kích
thích tự nhiên của nút xoang để thay
đổi nhịp. Tuy
nhiên, nhiều lúc khi người bệnh không
có vận động, như khi ngồi làm việc,
nút
xoang có thể có nhịp nội tại quá thấp
và người bệnh cần được máy tạo nhịp
kích
thích ở nhĩ và ở thất để giử nhịp tối thiểu. Máy
Talos D có chức năng tự động điều
chỉnh biên độ xung thất. Máy có thể ghi
lại đầy đủ các thống kê về nhịp tin và
quá trình điều trị. Trọng lượng: 26 gram.
DDDR
(Biotronik
Talos
DR)-
Trong trường hợp người trẻ tuổi với
nút xoang không còn hoạt động tốt (suy
nút xoang), thì loại máy
DDDR với
chức năng tạo nhịp ở nhĩ thích ứng với nhu cầu lưu huyết,
cùng với tạo nhịp ở
thất đồng bộ với nhĩ, là loại máy
thích hợp nhất. Nếu nút xoang
của bệnh nhân
vẫn trong tình trạng ổn định
tốt thì loại máy
này rất
thích hợp vì dùng kích
thích tự nhiên của nút xoang để thay
đổi nhịp. Trừ trưỡng hợp
bệnh nhân bị blốc nhĩ-thất trường kỳ, chương trình IRS+
sẽ giúp giảm tạo nhịp ở thất hầu giảm xác suất suy tim. Máy Talos DR có
chức
năng tự
động điều chỉnh biên độ xung thất. Máy Talos DR
là loại máy cao cấp nhất trong
các loại máy Talos và có
đầy đủ chưc năng thống kê nhịp tim và ghi lại
quá
trình điều trị. Trọng lượng: 26 gram.
Theo
kết quả chương trình nghiên cứu về rung
nhĩ 2003 và rung
nhĩ 2008 gần đây
của
Bác Sĩ Puglisi
(Rome, Ý), các máy DDDR hữu hiệu hạ
gánh nặng rung nhĩ công hiệu hơn loại
máy với
chương trình DDD+ đã được dùng trước
đây để điều trị rung nhĩ. Chỉ có loại
máy
DDDRCLS của Biotronik (xem máy Cylos dưới đây)
là có công hiệu gấp 3 lần
các máy DDDR và DDD+!
VDDR
(Biotronik Talos
SLR)- Loại
máy này thích hợp
cho các bệnh nhân với nút xoang tốt bị
blốc nút nhĩ-thất hay ngay dưới nút nhĩ-thất,
có nhịp thích ứng trong mọi trường hợp. Nhờ nhận cảm ở
nhĩ, máy có thể thay
đổi nhịp thất đúng theo yêu cầu cơ thể. Trong trường hợp
những người bệnh nêu
trên, máy này tương đương
với
máy DDDR, mà chỉ cần một dây điện cực
đặc biệt của
công ty Biotronik. dây Solox. Vì chỉ cần cấy một
dây, thủ tục cấy máy đơn giản như trường
hợp các máy VVI và VVIR.
Máy có đầy đủ chức năng thống kê nhịp
tim và ghi lại
quá trình điều trị. Trọng lượng: 26 gram
Đối với các bệnh nhân trẻ (dưới 40) chỉ bị blốc, máy Talos SLR là tối ưu. Trong đời bạn sẽ còn thay nhiêu máy (cách khoảng 10 năm) nên có thể sau một vài đời máy, 20-30 năm, dây điện cực sẽ hư. Hiện nay BS không lấy dây hư ra, vì lâu ngày dây dính vào thành tĩnh mạch, khó rút dây ra được. Vì chỉ dùng một dây điện cực, nên tĩnh mạch bạn dễ nhận thêm dây mới. Với các máy 2 buồng khác, cần 2 dây điện cực nên chiếm gấp đôi diện tích đường kính.
DDDRCLS
(Biotronik Cylos
DR) - Các máy với nhịp thích ứng ở
trên đều dùng bộ phận gia tốc. Biotronik
còn
có máy tạo nhịp Cylos DR với nhịp
thích ứng sinh lý Closed Loop Stimulation
(CLS). Đây là phát minh của
công ty Biotronik tạo nên một máy
có thể thay thế
được nút xoang trong tim. Máy Cylos chẵng những
thay đổi nhịp khi người bệnh hoạt
động mà còn thay đổi khi người bệnh suy nghỉ
nhiều hay có nhũng cảm xúc mạnh.
Máy đã được dùng thành
công để điều trị rung
nhĩ
và với
tình trạng suy tim ở thời gian đầu nhưng cũng có
thể dùng
thay thế máy Talos DR ở trên để nâng cao
chất lượng cuộc sống!
So với máy Talos DR, máy Cylos DR có thêm một số chức năng giúp bệnh nhân trong một vài trường hợp đặc biệt:
xảy ra do
một rối loạn của hệ thần kinh. Thường xảy ra sau khi đứng yên
một
thời gian lâu (xem hình bên phải:
đoàn lính Anh chờ diễn hành). Những
người gặp phải triệu chứng
này
không nên lái xe gắn máy đi
xa vì
có thể ngất và dễ gây
ra tai nạn giao thông.
Máy
tạo nhịp tim với nhịp thích
ứng CLS,
là loại máy tạo nhịp tim duy nhất có
thể điều trị
100% tình trạng này (kết quả nghiên cứu
INVASY,
nhóm do Bác sỹ
Occhetta lãnh đạo, Ý, năm 2004, với 50 bệnh
nhân). Nhờ đo
độ co của
tim, chịu sự chi phối cua hệ thần kinh tự động, máy
có
thể dự đoán một cơn ngất sắp xảy ra và sẽ can
thiệp sớm (các
máy tạo nhịp khác, can thiệp trễ, có thể tránh ngất trong một số người,
nhưng vẫn bị choáng váng!) bằng
cách tăng nhịp tim. Chỉ có loại máy
tạo nhịp tim
với chức năng CLS mới công hiệu! Nếu bạn bị triệu
chứng
này, hãy liên lạc với chung
tôi để có
thêm tin tức.
Cylos DR là loại máy cao cấp nhất của công ty Biotronik và máy có đầy đủ các thông kê để giúp bác sĩ tối ưu hóa việc điều trị. Trọng lượng: 28 gram.
DDDRCLS
(Biotronik Evia
DR). Đây là máy tạo nhịp thế hệ 2009 của Biotronik với nhịp thích ứng
CLS. So với máy Cylos DR,
máy Evia có thơi gian hoạt động dài hơn, > 12 năm, có điều chỉnh
tự động biên độ xung ở nhĩ và thất. Khi dùng chung với các dây điện cực
Safio S, bộ máy "ProMRI" này Evia là MRI-Safe,
có nghĩa là có thể dùng an toàn với máy cộng hưởng từ (MRI).
Trường hợp nào bạn cần quan tâm đến loại máy này ? Nói chung các bạn
lớn tuổi nên nghỉ đến bộ máy này vi xác suất cần làm MRI cao. Ngoài ra các bạn bị ung thư cần trải
qua xạ trị, cũng nên cấy loại máy này vì mỗi lần điều trị phải bật máy
OFF, rồi sau đó ON trở lại. Với máy Evia điều này dễ làm hơn, và kỹ
thuật viên không cần phải ghi lại các thông số, vì đã được lưu lại
trong máy Evia.
Các
dây điện cực dòng Selox: Selox ST (cố định mỏ neo, cấy vào thất), Selox
JT (cố định mỏ neo, cấy vào nhĩ), Selox SR (đầu vít, cấy vào nhĩ hay
thất). Thân dây bằng chất silicon nên bền. Các điện cực có chất phủ Irridium Fractal nhằm
tăng
nhận cảm các sóng, và nhờ vậy được thiết kế với diện tích nhỏ hầu giảm
ngưỡng tạo nhịp.
Dây
điện cực Setrox là thế hệ sau dây Selox SR. Đây là loại dây với đầu
vít và chất phủ Iridium Fractal. Dây này có đường kính 7 French, nhỏ
hơn dây SR. Nhờ thân dây mềm
nên có thể cấy vào thành liên thất.
Ngoài
ra còn có dây điện cực Solox với 4 điện cực: 2 điện cực nhẫn ở nhĩ và 2
điện cực ở thất. Tất cả các điện cực đều có phủ lới Iridium Fractal.
Chúng tôi là công ty duy nhất cung cấp loại dây này ở
Việt Nam. Loại dây này được dùng với máy Talos
SLR. Thủ thuật cấy dây này như cấy một dây thất duy nhất, mà đạt chức
năng máy 2 buồng
với các BN còn nút xoang tốt mà chỉ bị blốc nhi-thất cấp II hoặc III!
Năm
2010 chúng tôi giới thiệu thêm 2 loại dây điện cực mới.
Dòng
dây
Siello, với kích cở 6 French (xem hình bên trái và trên đây), là dây
nhỏ nhất của Biotronik. Dây Siello còn có lớp phủ polyurethane bên
ngoài lớp cách điện Silicon, làm dây trơn, giúp các dây trượt qua nhau
dễ dàng. Các dây này là thế hệ sau
dây Setrox nên cũng mềm như dây Setrox.
Bác
sĩ có thể dùng máy chương
trình để điều chỉnh biên độ xung
kích thich xuống sau một thơì gian khoảng 3
tháng, như vậy có thể kéo
dài thời gian hoạt động của máy. Tuy
nhiên với một
số người bệnh, biên độ xung sẽ cần phải tăng lên để
máy hoạt động hữu hiệu.
Trong trường hợp này, thời gian hoạt động sẽ ngắn đi. Máy chương trình có đầu nam châm (bên phải máy mẹ trong hình bên trái) dùng để liên lạc với máy tạo nhịp. Đầu nam châm dùng từ trường để liên lạc với máy tạo nhịp. Các bác sĩ cấy máy đều đã được cung cấp máy chương trình tương tự như trong hình bên trái để có thể theo dõi và điều chỉnh máy tạo nhịp sau khi đã được cấy vào cơ thể.
Bạn nên tuân thủ theo lịch kiểm tra máy tạo nhịp do bác sĩ điều trị đề xuất để máy tạo nhịp của bạn hoạt động với những thông số thích hợp nhất cho bạn. Bác sĩ sẽ kiểm tra máy với máy lập trình để tối ưu hóa cuộc điều trị. Bạn hãy nhớ kỹ lịch tái khám, nhất là kỳ tái khám đầu tiên! Vào lần khám này, bác sĩ se điều chỉnh hạ thấp biên độ xung xuống nhằm giúp bạn tiết kiệm được năng lượng pin. Sự khác biệt giữa thông số đã được tối ưu hóa và các thông số mặc định có thể kéo dài tuổi thọ của máy lên đến hai năm! Ở các thành phố lớn (TP HCM, Hà Nội), nếu vi bất kì lý do gì mà bạn không thể tới khám với bác sĩ cấy máy, đại diện công ty có thể giới thiệu bạn đến những bác sĩ có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực này hoặc bệnh viện nào thuận tiện nhất cho việc đi lại của bạn.
Thời gian hoạt động của máy tùy theo biên độ các xung và tùy theo nhịp nội tại của bạn. Bạn nên để ý nhịp khi nằm yên một thời gian (không phải vào lúc đêm vì máy có thể lập trình nhịp đêm thấp hơn nhip trong ngày). Đó thường là nhịp cơ bản của máy. Nếu đột nhiên bạn để ý nhịp này hạ thấp xuống, thì nên đi đến bác sĩ để được kiểm tra. Vào cuối thời gian hoạt động của máy, nếu bạn để ý máy tạo nhịp Biotronik của bạn tự động hạ nhịp xuống 11% (thí dụ nhịp cơ bản là 70 chu kỳ phút, 70% là 62 ckp), thí đó là dấu biệu pin đã yếu và bạn cần phải thay máy. Thông thường thì máy từ khi vào thời gian ERI (Elective Replacement Indication, dấu hiệu nên thay máy) vẫn có thể hoạt động thời gian trên 6 tháng. Bác sĩ sẽ kiểm tra lại máy, và nếu đúng là máy đã vào thơì gian ERI, thi Bác sĩ sẽ bàn chuyện thay máy với bạn. Đây cũng là một dịp nâng cấp máy, nếu bạn muốn được hưởng mức điều trị tốt hơn.




đều
có thể cấy máy tạo nhịp tim
.
Để hỗ trợ bệnh nhân gặp khó khăn trong vấn đề tài chánh, Công ty Tâm Thu thường xuyên có những chương trình từ thiện hợp tác với các bệnh viện. Bác sĩ của người bệnh cần liên lạc với công ty Tâm Thu.
Hiện nay BV Nhi Đồng 1, TPHCM, đã có kinh nghiệm với chương trình bảo hiểm y tế này. Thông thường các em sẽ được cấy loại máy VVIR hay AAIR với dây điện cực với cố định chủ động đầu vít để có thể tháo ra nếu cần khi lớn lên. Các em bé dưới 10 kg thì thường sẽ phải dùng dây thượng tâm mạc cấy phía ngoài tim vì tĩnh mạch các em này quá nhỏ. Chúng tôi có thể cung cấp đầy đủ các loại dây điện cực cho các em.
Vì các em cần nhịp cao, thường là 90-100 lần/phút trong khi người lớn chỉ cần nhịp 60-70 lần/phút, nên thời gian hoạt động của máy tạo nhịp sẽ bị rút ngắn lại. Máy Talos SR với pin lớn vẫn có được thời gian hoạt động 4-5 năm với điện cực thượng tâm mạc (người lớn đạt được 10 năm với điện cực tĩnh mạch). Đến khi đến thời kỳ thay máy, nếu có điều tiện, thì nên đổi sang máy hai buồng để các em có một cuộc sống bình thường như các bạn cùng trang lứa.
Nếu
các em lớn
(tim đã trưởng thành) chỉ bị blốc
nhĩ-thất thì máy thích hợp
nhất là máy loại VDDR chỉ cần một
dây điện cực mà có thể bắt được nhịp
xoang ở nhĩ và truyền xuống thất. Nếu các em chỉ
bị suy nút xoang mà không bị blốc thi
máy một buồng AAIR với dây nhĩ là đủ.
Còn nếu nút xoang không tốt
và bị blốc thi nên dùng DDDR. Nhịp
thích ứng rất quan trọng để các em có
thể vận động được để có một cuộc sống bình
thường.
Đối
với các em trong lứa tuổi 6 đến 18 mà gia đình
có hoàn cảnh khó khăn, chúng tôi có thể liên hệ với một số hội từ thiện
và nhà hảo
tâm để có thể giúp đỡ các em trong vấn đề điều trị. Hãy liên lạc qua
e-mail (nwspi@comcast.net)
với chúng tôi hoăc liên lạc với đại diện
chung tôi qua bác sĩ điều trị.
Số lượt
truy cập:
Cập
nhật: 16/08/2010
Copyright NWSPI
2007 - 2010