NWSPIBanner

TamThu

powered by FreeFind
Trang chủ


Máy tạo nhịp tim


Điều trị suy tim bằng máy tạo nhịp


Máy tạo nhịp tạm thời


Máy phá rung tự động


Máy thăm do điện sinh lý tim


Cẩm nang cho bệnh nhân


Liên lạc: nwspi@ comcast
net

hoặc
lienlac@
tamthuvn.
com

Máy tạo nhịp tim

BioLogo




Pacemaker

Máy tạo nhịp: 2/3 thân máy là pin! Các máy trong trang web này đều dùng pin 1,3Ah để bảo đảm hoạt động lâu dài 7-10 năm. Các máy nhỏ thường phải hy sinh thời gian hoạt động.

PM

Máy tạo nhịp với hai dây điện cực ở nhĩ và thất phải

PacingHeart
Tạo nhịp hai buồng tim phải.
Lưu ý xung (màu xanh) phát ra ở đầu điện cực trước khi nhĩ và trước khi thất co bóp.

Các máy tạo nhịp tim Biotronik ở Việt Nam

Talos S TalosSR TalosD TalosDR
Talos S máy cơ bản 1 buồng Talos SR máy 1 buồng với nhịp thích ứng Talos D máy 2 buồng Talos DR máy 2 buồng với nhịp thích ứng
TalosSLR CylosDR CylosDR TalosDR
Talos SLR máy 2 buồng chỉ cần 1 dây điện cực Cylos DR máy 2 buồng cao cấp, trị rung nhĩ Philos II S máy 1 buồng cao cấp Evia DR máy 2 buồng cao cấp, giúp điều trị rung nhĩ

MỚI ... 4/08/2010 - Máy mới: Evia DR!

Mục lục

Giới thiệu máy tạo nhịp tim

Bài mới được cập nhật ... 7/02/2010

Tư vấn thay máy

Các bệnh viện ở Việt Nam cấy máy tạo nhịp Biotronik

Quy chế bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuổi

Rung nhĩ và máy tạo  nhịp

Giới thiệu máy tạo nhịp (điều trị nhịp tim chậm)

Trở lại Mục Lục

Ngoại đoạn giới thiệu dưới đây, chúng tôi cũng có một số bài về cơ bản tạo nhịp đã được đăng ở trang giới thiệu.

Các máy tạo nhịp tim được chia ra nhiều loại với những ký hiệu NASPE/BPEG khác nhau: VVI, VVIR, VDDR, DDD, DDDR, AAI, AAIR. Chữ đầu dùng để chỉ buồng tim được kích thích: tâm thất dùng chữ V (Ventricle), tâm nhĩ dùng chữ A (Atrium), cả hai thì dùng chữ D (Dual), O: không có. Chữ thứ nhì dùng để chỉ máy sẽ nhận cảm ở buồng nào: V, A, D, O.. Chữ thứ ba là: I (Inhibited) nếu có kích thích tự nhiên thì không kích thích, D (dual) như I và dùng tâm nhĩ làm chủ. Chữ thứ  tư là chữ R (rate adaptive) để chỉ loại máy có nhịp thích ứng.

Bảng I: các ký hiệu NASPE/BPEG.

Trở lại Mục Lục

Buồng tạo nhịp
(tim phải)

Buồng O: nhận cảm

Đáp ứng

Nhịp thích ứng

Điểm tạo nhịp phụ (thông thường là thất trái)

O: không có

A: nhĩ

V: thất

D: cả hai buồng

S: đơn (nhĩ hay thất)

 

O: không có

A: nhĩ

V: thất

D: cả hai buồng

S: đơn (nhĩ hay thất)

 

O: không có

I: ức chế

T: khởi kích

D: I+T

O: không có. Thường không ghi.


R: nhịp thích ứng

O: không có. Thương không ghi.


A: nhĩ

V: thất

D: cả hai buồng

A: atrium; V: Ventricle; S: Single, D: Dual

I: Inhibit; T: Trigger; D: Dual

R: Rate modulation

 

Các máy thường được ghi là SSI, SSIR, DDD, DDDR, SLR. SS có nghĩa là máy chỉ có thể kích thích và nhận cảm một buồng, nhĩ hoặc thất, tùy bác sĩ cấy dây điện cực vào buồng nào của tim phải. SL viết tắt cho Single Lead, chỉ dùng một dây điện cực. Đây là loại máy VDD dùng với loại dây điện cực đặc biệt có thể tạo nhịp ở thất và nhận cảm ở cả hai buồng. Các máy hai buồng có thể lập trình xuống cấp được, nghĩa là máy DDD có thể dùng theo phương cách VVI, AAI, VDD được. Lý do máy hai buồng được ghi là DDD vì máy sau khi nhận cảm nhịp nội tại ở nhĩ, sẽ ức chế tạo nhịp ở nhĩ (chữ I), sau đó sẽ bắt đầu một thời gian sẽ đưa đến tạo nhịp ở thất (trigger – chữ T). Tuy nhiên nếu nhận cảm được nhịp nội tại ở thất, thì máy sẽ ức chế tạo nhịp ở thất (chữ I). Vì máy dùng cả hai chức năng I và T nên ký hiệu đáp ứng la D. Với phương thức DDD, nhĩ là chủ, nghĩa là các chu kỳ thời gian bắt đầu ở nhĩ, nhận cảm hay tạo nhịp. Các máy còn có thể lập trình để hoạt động theo phương cách DDI. Với DDI, thất là chủ. Các chu kỳ thời gian bắt đầu ở thất. Phương thức DDI dùng khi tim bị rung nhĩ, nên vô hiệu hoá các tín hiệu ở nhĩ. Máy có thể tạo nhịp ở nhĩ, nếu trong chu kỳ không nhận cảm được do các sóng ở nhĩ quá thấp.

Bác sĩ sẽ chỉ định loại máy tùy theo trường hợp từng cá nhân. Nói chung thì loại máy một buồng VVI ở thất là máy tối thiểu vì sẽ giúp tim có nhịp tối thiểu. Nếu căn bệnh nhịp tim chậm là do suy nút xoang, mà bộ phận dẫn truyền trong tim còn tốt, thì loại máy này sẽ được dùng theo dạng AAI để tạo những xung ở nhĩ phải, thay thế nút xoang. Thông thường, ngoại trừ trường hợp những người bệnh lớn tuổi, các máy VVIR/AAIR với nhịp thích ứng đều có thể dùng thay loại máy VVI/AAI. Với nhịp thích ứng, người bệnh khi hoạt động nhịp tim sẽ đươc tăng lên để đáp ứng nhu cầu dùng oxy và các chất dinh dưỡng ở các cơ đang hoạt động. Các máy theo phương cách AAI/AAIR thường được dùng với bệnh nhân trẻ tuổi. Lý do không dùng AAI/IAAIR với bệnh nhân lớn tuổi vì trạng thái bị hư nút nhĩ-thất thường xảy ra trong tim người lớn tuổi và khi xảy ra sẽ vô hiệu hoá loại máy AAI/AAIR này. Về phương diện sinh lý, tạo nhịp theo phương cách AAIR là tối ưu, trong trường hợp các đường dẫn truyền tốt.

Các loại máy hai buồng DDD, DDDR, VDDR, nhờ phối hợp co bóp cả hai buồng tim nên hữu hiệu hơn loại máy một buồng VVI/VVIR. Loại máy VDDR thích hợp cho những người bệnh với nút xoang tốt nhưng bị blốc ở nút nhĩ thất hay ngay dưới ở bó His (xem bài : Phương cách tạo nhịp tối ưu với blốc nhĩ-thất). Nhờ chức năng nhịp thích ứng, trong trường hợp rung nhĩ và máy không còn dùng nhịp nhĩ được, máy có thể thay đổi nhịp khi người bệnh hoạt động. Loại máy DDD thích hợp cho người bệnh với nút xoang tốt và bị blốc ở nút nhĩ-thất hay dưới đó, hoặc với người bệnh bi suy nút xoang. Tuy nhiên trong trường hợp sau, nhịp sẽ không thay đổi được. Loại máy DDDR thích hợp cho tất cả các trường hợp nhịp chậm. Tuy nhiên, với người bệnh cao niên hay sức khỏe kém, bác sĩ thường chỉ định loại máy một buồng để rút ngắn thời gian cấy máy, hoặc ngăn ngừa những biến chứng có thể xẩy ra về sau ... như dây nhĩ bị bật khỏi vị trí ban đầu. 

Theo các nghiên cứu mới, các máy hai buồng cần dùng nhịp nội tại thất tối đa thay vì tạo nhịp ở thất, hầu giảm hiểm họa rung nhĩ và suy tim. Các máy hai buồng Biotronik (VDDR, DDD, DDDR) có chức năng thời gian nhĩ-thất trễ (AV hysteresis) để tận dụng nhịp nội tại, và các phương thức tìm kiếm nhịp nội tại ở thất như AV repetitive hysteresis (trong một vài chu kỳ sau khi mất nhịp nội tại, cố gắng tiếp tục tìm nhịp nội tại), AV scan hysteresis (sau khi tạo nhip 180 chu kỳ liên tục, trong một vài chu kỳ sẽ cố gắng kiếm nhịp nội tại)... hãy xem bài Máy tạo nhịp hai buồng: những thông tin mới




Các máy tạo nhịp Biotronik ở Việt Nam

Trở lại Mục Lục

TalosSVVI/ AAI  (Biotronik Talos S) - đây là loại căn bản. Máy sẽ đo điện trong tim ở tâm thất phải, và nếu không đo được một kích thích tự nhiên thì sẽ tự động kích thích tâm thất phải. Các máy Talos S của Biotronik còn có bộ phận chứa quá trình nhịp tim để bác sĩ dùng trong việc điều chỉnh nhịp cho thích hợp với hoạt động của bệnh nhân.Trọng lượng: 24 gram.

PhilosIISVVI/AAI (Biotronik Philos II S) – Máy Philos II S là máy Talos S được nâng cấp với một số chức năng. Đầu tiên là chức năng tự động điều chỉnh biên độ xung thất. Chức năng này giúp máy có thể hoạt động an toàn với biên độ xung thấp. Nếu xung không khữ cực thành công, thì máy sẽ phát một xung an toàn (có một số máy các công ty khác, tuy được quảng cáo là có chức năng tự động điều chỉnh biên độ xung, nhưng không có phát được xung an toàn ... nên thật sự không thể hoạt động với biên độ thấp và vì vậy không tiết kiệm được pin như với máy Biotronik), và nếu tình trạng tiếp tục thì máy sẽ đo lại ngưỡng tạo nhịp và tự điều chỉnh biên độ xung. Nhờ vậy thời gian hoạt động có thể kéo dài hơn máy Talos S. Chức năng thứ hai là san bằng nhịp. Chức năng này quan trọng nếu người bệnh bị rung nhĩ với dẫn truyền xuống thất, hay bị những đợt ngoại tâm thu. Thông thường với rung nhĩ, nhịp thất sẽ không đều, tạo nên khó chịu. Với san bằng nhịp, máy sẽ đem nhịp thất từ từ xuống, có thể giúp người bệnh không có cảm giác khó chịu do nhịp thay đổi nhanh. Chức năng thứ ba là gia tăng số đoạn điện tim được lưu lại trong máy từ 4 lên đến 10 đoạn, giúp trong chẩn đoán khi bác sĩ đang tìm kiếm liều thuốc thích hợp cho điều trị loạn nhịp. Có thể cấy máy Philos II S ngay từ đầu, hay dùng máy Philos II S để nâng cấp máy VVI khi thay máy. Trọng lượng: 26 gram.

Với các em bé dưới 10 Kg, vì cần dùng dây điện cực thượng tâm mạc, máy Philos II thích hợp hơn là máy Talos S/SR vì biên độ xung có thể tự động điều chỉnh lên đến 6,4V, thay vì bị giới hạn ở mức 3,6V. Các điện cực thượg tâm mạc có thể có ngưỡng kích thích cao, nên cần xung tạo nhịp với biên độ cao.

TalosSRVVIR/ AAIR (Biotronik Talos SR) - tương tự như loại VVI, nhưng nhịp độ kích thích thay đổi tùy theo những sự hoạt động của bệnh nhân. Thí dụ như khi ngồi dậy thì nhịp sẽ cao hơn là khi nằm. Khi đi thì nhịp sẽ cao hơn là khi đứng yên. Loại máy này có thể dùng trong bất cứ trường hợp nào thay vì loại máy VVI. Máy Talos SR có chức năng tự động điều chỉnh biên độ xung thất. Các máy Talos SR của Biotronik còn có bộ phận chứa quá trình nhịp tim để bác sĩ dùng trong việc điều chỉnh nhịp cho thích hợp với hoạt động của bệnh nhân. Loại máy này thường được dùng thay vì loại VVI cho những bệnh nhân còn trong độ tuổi hoạt động nhiều. Trọng lượng: 24 gram.

TalosDDDD (Biotronik Talos D)- đây là loại máy vừa đo và kích thích ở tâm nhĩ lẫn tâm thất. Với loại máy này,  thời gian của phẫu thuật cấy máy lâu hơn loại máy một buồng vì cần hai dây dẫn điện. Cách điều chỉnh máy cũng tương đối phức tạp hơn.  Nhưng về phương diện tim mạch thì loại máy này tốt hơn hai loại trên và máy cũng đòi hỏi các bác sĩ điều trị cần phải có kinh nghiệm nhất định. Nếu nút xoang của bệnh nhân thông thường tốt thì loại máy này rất thích hợp vì dùng kích thích tự nhiên của nút xoang để thay đổi nhịp. Tuy nhiên, nhiều lúc khi người bệnh không có vận động, như khi ngồi làm việc, nút xoang có thể có nhịp nội tại quá thấp và người bệnh cần được máy tạo nhịp kích thích ở nhĩ và ở thất để giử nhịp tối thiểu. Máy Talos D có chức năng tự động điều chỉnh biên độ xung thất. Máy có thể ghi lại đầy đủ các thống kê về nhịp tin và quá trình điều trị. Trọng lượng: 26 gram.

TalosDRDDDR (Biotronik Talos DR)- Trong trường hợp người trẻ tuổi với nút xoang không còn hoạt động tốt (suy nút  xoang), thì loại máy DDDR với chức năng tạo nhịp ở nhĩ thích ứng với nhu cầu lưu huyết, cùng với tạo nhịp ở thất đồng bộ với nhĩ, là loại máy thích hợp nhất. Nếu nút xoang của bệnh nhân vẫn trong tình trạng ổn định tốt thì loại máy này rất thích hợp vì dùng kích thích tự nhiên của nút xoang để thay đổi nhịp. Trừ trưỡng hợp bệnh nhân bị blốc nhĩ-thất trường kỳ, chương trình IRS+ sẽ giúp giảm tạo nhịp ở thất hầu giảm xác suất suy tim. Máy Talos DR có chức năng tự động điều chỉnh biên độ xung thất. Máy Talos DR là loại máy cao cấp nhất trong các loại máy Talos và có đầy đủ chưc năng thống kê nhịp tim và ghi lại quá trình điều trị. Trọng lượng: 26 gram.

Theo kết quả chương trình nghiên cứu về rung nhĩ 2003rung nhĩ 2008 gần đây của Bác Sĩ Puglisi (Rome, Ý), các máy DDDR hữu hiệu hạ gánh nặng rung nhĩ công hiệu hơn loại máy với chương trình DDD+ đã được dùng trước đây để điều trị rung nhĩ. Chỉ có loại máy DDDRCLS của Biotronik (xem máy Cylos dưới đây) là có công hiệu gấp 3 lần các máy DDDR và DDD+!

TalosSLRVDDR (Biotronik Talos SLR)- Loại máy này thích hợp cho các bệnh nhân với nút xoang tốt bị blốc nút nhĩ-thất hay ngay dưới nút nhĩ-thất, có nhịp thích ứng trong mọi trường hợp. Nhờ nhận cảm ở nhĩ, máy có thể thay đổi nhịp thất đúng theo yêu cầu cơ thể. Trong trường hợp những người bệnh nêu trên, máy này tương đương với máy DDDR, mà chỉ cần một dây điện cực đặc biệt của công ty Biotronik. dây Solox. Vì chỉ cần cấy một dây, thủ tục cấy máy đơn giản như trường hợp các máy VVI và VVIR. Máy có đầy đủ chức năng thống kê nhịp tim và ghi lại quá trình điều trị. Trọng lượng: 26 gram

Đối với các bệnh nhân trẻ (dưới 40) chỉ bị blốc, máy Talos SLR là tối ưu. Trong đời bạn sẽ còn thay nhiêu máy (cách khoảng 10 năm) nên có thể sau một vài đời máy, 20-30 năm, dây điện cực sẽ hư. Hiện nay BS không lấy dây hư ra, vì lâu ngày dây dính vào thành tĩnh mạch, khó rút dây ra được. Vì chỉ dùng một dây điện cực, nên tĩnh mạch bạn dễ nhận thêm dây mới. Với các máy 2 buồng khác, cần 2 dây điện cực nên chiếm gấp đôi diện tích đường kính. 

CylosDRDDDRCLS (Biotronik Cylos DR) - Các máy với nhịp thích ứng ở trên đều dùng bộ phận gia tốc. Biotronik còn có máy tạo nhịp Cylos DR với nhịp thích ứng sinh lý Closed Loop Stimulation (CLS). Đây là phát minh của công ty Biotronik tạo nên một máy có thể thay thế được nút xoang trong tim. Máy Cylos chẵng những thay đổi nhịp khi người bệnh hoạt động mà còn thay đổi khi người bệnh suy nghỉ nhiều hay có nhũng cảm xúc mạnh. Máy đã được dùng thành công để điều trị rung nhĩ và với tình trạng suy tim ở thời gian đầu nhưng cũng có thể dùng thay thế máy Talos DR ở trên để nâng cao chất lượng cuộc sống! 

So với máy Talos DR, máy Cylos DR có thêm một số chức năng giúp bệnh nhân trong một vài trường hợp đặc biệt:


MIRisk

Cylos DR là loại máy cao cấp nhất của công ty Biotronik và máy có đầy đủ các thông kê để giúp bác sĩ tối ưu hóa việc điều trị. Trọng lượng: 28 gram.

EviaDDDRCLS (Biotronik Evia DR). Đây là máy tạo nhịp thế hệ 2009 của Biotronik với nhịp thích ứng CLS. So với máy Cylos DR, máy Evia có thơi gian hoạt động dài hơn, > 12 năm, có điều chỉnh tự động biên độ xung ở nhĩ và thất. Khi dùng chung với các dây điện cực Safio S, bộ máy "ProMRI" này Evia là MRI-Safe, có nghĩa là có thể dùng an toàn với máy cộng hưởng từ (MRI). 
Trường hợp nào bạn cần quan tâm đến loại máy này ? Nói chung các bạn lớn tuổi nên nghỉ đến bộ máy này vi xác suất cần làm MRI cao. Ngoài ra các bạn bị ung thư cần trải qua xạ trị, cũng nên cấy loại máy này vì mỗi lần điều trị phải bật máy OFF, rồi sau đó ON trở lại. Với máy Evia điều này dễ làm hơn, và kỹ thuật viên không cần phải ghi lại các thông số, vì đã được lưu lại trong máy Evia.


Các dây điện cực tạo nhịp Biotronik ở Việt Nam

Trở lại Mục Lục

SeloxCác dây điện cực dòng Selox: Selox ST (cố định mỏ neo, cấy vào thất), Selox JT (cố định mỏ neo, cấy vào nhĩ), Selox SR (đầu vít, cấy vào nhĩ hay thất). Thân dây bằng chất silicon nên bền. Các điện cực có chất phủ Irridium Fractal nhằm tăng nhận cảm các sóng, và nhờ vậy được thiết kế với diện tích nhỏ hầu giảm ngưỡng tạo nhịp. 

SetroxDây điện cực Setrox là thế hệ sau dây Selox SR. Đây là loại dây với đầu vít và chất phủ Iridium Fractal. Dây này có đường kính 7 French, nhỏ hơn dây SR. Nhờ thân dây mềm nên có thể cấy vào thành liên thất.



SoloxNgoài ra còn có dây điện cực Solox với 4 điện cực: 2 điện cực nhẫn ở nhĩ và 2 điện cực ở thất. Tất cả các điện cực đều có phủ lới Iridium Fractal. Chúng tôi là công ty duy nhất cung cấp loại dây này ở Việt Nam. Loại dây này được dùng với máy Talos SLR. Thủ thuật cấy dây này như cấy một dây thất duy nhất, mà đạt chức năng máy 2 buồng với các BN còn nút xoang tốt mà chỉ bị blốc nhi-thất cấp II hoặc III!

 SielloNăm 2010 chúng tôi giới thiệu thêm 2 loại dây điện cực mới. Siello Cross SectionDòng dây Siello, với kích cở 6 French (xem hình bên trái và trên đây), là dây nhỏ nhất của Biotronik. Dây Siello còn có lớp phủ polyurethane bên ngoài lớp cách điện Silicon, làm dây trơn, giúp các dây trượt qua nhau dễ dàng.  Các dây này là thế hệ sau dây Setrox nên cũng mềm như dây Setrox.
Safio
Dòng dây Safio S là loại dây ít bị từ trường ảnh hưởng nên khi dùng với máy Evia trở thành bộ máy ProMRI, có thể dùng an toàn khi chụp MRI. Các dây Safio đều dùng đầu vít để cố định vào cơ tim. Dây Safio được biến chế từ dây Setrox với dây dẫn điện ít bị từ trường ảnh hưởng nên kích thước đều giống dây Setrox với đường kính 7 French.






Máy tạo nhịp tối ưu cho người lớn tuổi
... và người trẻ

Trở lại Mục Lục
Vì đoạn này  dài nên chung tôi đã đưa qua trang  một trang khác. Bạn hãy bấm vào tựa trên để tới trang mới.





Máy chương trình để theo dõi

Trở lại Mục Lục
PMS1000Bác sĩ có thể dùng máy chương trình để điều chỉnh biên độ xung kích thich xuống sau một thơì gian khoảng 3 tháng, như vậy có thể kéo dài thời gian hoạt động của máy. Tuy nhiên với một số người bệnh, biên độ xung sẽ cần phải tăng lên để máy hoạt động hữu hiệu. Trong trường hợp này, thời gian hoạt động sẽ ngắn đi.

Máy chương trình có đầu nam châm (bên phải máy mẹ trong hình bên trái) dùng để liên lạc với máy tạo nhịp. Đầu nam châm dùng từ trường để liên lạc với máy tạo nhịp. Các bác sĩ cấy máy đều đã được cung cấp máy chương trình tương tự như trong hình bên trái để có thể theo dõi và điều chỉnh máy tạo nhịp sau khi đã được cấy vào cơ thể.

Kiểm tra máy định kỳ

Trở lại Mục Lục

Bạn nên tuân thủ theo lịch kiểm tra máy tạo nhịp do bác sĩ điều trị đề xuất để máy tạo nhịp của bạn hoạt động với những thông số thích hợp nhất cho bạn. Bác sĩ sẽ kiểm tra máy với máy lập trình để tối ưu hóa cuộc điều trị. Bạn hãy nhớ kỹ lịch tái khám, nhất là kỳ tái khám đầu tiên! Vào lần khám này, bác sĩ se điều chỉnh hạ thấp biên độ xung xuống nhằm giúp bạn tiết kiệm được năng lượng pin. Sự khác biệt giữa thông số đã được tối ưu hóa và các thông số mặc định có thể kéo dài tuổi thọ của máy lên đến hai năm! Ở các thành phố lớn (TP HCM, Hà Nội), nếu vi bất kì lý do gì mà bạn không thể tới khám với bác sĩ cấy máy, đại diện công ty có thể giới thiệu bạn đến những bác sĩ  có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực này hoặc bệnh viện nào thuận tiện nhất cho việc đi lại của bạn. 

Cuối thời gian hoạt động

Trở lại Mục Lục

Thời gian hoạt động của máy tùy theo biên độ các xung và tùy theo nhịp nội tại của bạn. Bạn nên để ý nhịp khi nằm yên một thời gian (không phải vào lúc đêm vì máy có thể lập trình nhịp đêm thấp hơn nhip trong ngày). Đó thường là nhịp cơ bản của máy. Nếu đột nhiên bạn để ý nhịp này hạ thấp xuống, thì nên đi đến bác sĩ để được kiểm tra. Vào cuối thời gian hoạt động của máy, nếu bạn để ý máy tạo nhịp Biotronik của bạn tự động hạ nhịp xuống 11% (thí dụ nhịp cơ bản là 70 chu kỳ phút, 70% là 62 ckp), thí đó là dấu biệu pin đã yếu và bạn cần phải thay máy. Thông thường thì máy từ khi vào thời gian ERI (Elective Replacement Indication, dấu hiệu nên thay máy) vẫn có thể hoạt động thời gian trên 6 tháng. Bác sĩ sẽ kiểm tra lại máy, và nếu đúng là máy đã vào thơì gian ERI, thi Bác sĩ sẽ bàn chuyện thay máy với bạn. Đây cũng là một dịp nâng cấp máy, nếu bạn muốn được hưởng mức điều trị tốt hơn.

Thay máy

Trở lại Mục Lục

Ca thay máy sẽ tiến hành đơn giản, và nhanh hơn lần đầu tiên đặt máy, vì hầu hết bệnh nhân sử dụng điện cực của Biotronik đều có thể tái sữ dụng lại dây điện cực cũ. Kinh nghiệm lâu năm làm việc trong ngành và với kiến thức của chúng tôi, cho phép chúng tôi khẳng định điều này vì dây điện cực của Biotronik được bao với chất silicone và với lớp phủ fractal nên rất bền và ngưỡng kích thích không tăng so với loại dây điện cực được chế tạo bằng chất polyurethane dễ bị gãy nứt hay ngưỡng tăng sau khi hết chất steroid (xem doạn tiếp về dây điện cực). Bạn hãy xem trang tư vấn thay máy.
Dưới đây là biểu đồ tồn tại dây Polyrox của Biotronik đã được dùng ở Việt Nam từ 10 năm nay... 100%! Hãy so sánh với dây điện cực các công ty khác! Ngoài dây Polyrox, hiện nay công ty Tâm Thu cung cấp mấy dây Biotronik Selox và từ tháng 3/2008 đã thêm dây Biotronik Setrox. Tỉ lệ tồn tại theo thời gian dây Selox sau 3 năm là 100%.

PolyroxSurvival

Tỉ lệ tồn tại theo thời gian dây điện cực Polyrox.
Trích từ trong báo cáo công ty Biotronik.


SeloxSurvival

Tỉ lệ tồn tại theo thời gian dây điện cực Selox.
Trích từ trong báo cáo công ty Biotronik.


OtherLead

Tỉ lệ tồn tại theo thời gian dây điện cực công ty A! Đây là dây tốt!
Trích từ trong báo cáo công ty sản xuất dây điện cực.


OtherLead

Tỉ lệ tồn tại theo thời gian dây điện cực công ty B! 
Trích từ trong báo cáo công ty sản xuất dây điện cực.


Bạn không muốn thuộc 6% trong trường hợp công ty A, hoặc 2% công ty B, cần phải thay dây! Vấn đề thay dây rất phức tạp nên thường bác sĩ sẽ bỏ lại dây trong tĩnh mạch của bạn và cấy dây mới. Nói chung, máy hết pin thì phải được thay máy mới, còn dây hư thì buộc phải bỏ lại trong tĩnh mạch. Với các bệnh nhân trẻ, nhiều dây trong tĩnh mạch có thể trở thành vấn đề!

Giới thiệu dây điện cực

Trở lại Mục Lục
Vì đoạn này khá dài nên chúng tôi đã đưa qua mot trang khác. Bạn hãy bấm link trên để qua trang mới.

Tự động điều chỉnh biên độ xung thất

Trở lại Mục Lục
Gần đây các máy tạo nhịp cao cấp đều có chức năng tự động điều chỉnh biên độ xung ở thất. Trong bài viết trên chúng tôi so sánh các chức năng này.



Các thiết bị khác

Trở lại Mục Lục
Ngoài các máy tạo nhịp vĩnh viễn điều trị nhịp chậm, chúng tôi còn có máy tạo nhịp tạm thời dùng trong cấp cứu hay sau mổ tim hở cùng với các dây điện cực cho cả hai áp dụng này,  máy phá rung tự động cấy vào cơ thể và máy tạo nhịp điều trị suy tim.

Các bệnh viện ở VN cấy máy tạo nhịp Biotronik

Trở lại Mục Lục
Các bác sĩ tim mạch ở:
VN

đều có thể cấy máy tạo nhịp tim BioLogo

Để hỗ trợ bệnh nhân gặp khó khăn trong vấn đề tài chánh, Công ty Tâm Thu thường xuyên có những chương trình từ thiện hợp tác với các bệnh viện. Bác sĩ của người bệnh cần liên lạc với công ty Tâm Thu. 

Quy chế bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuổi


Trở lại Mục Lục
Các trẻ em dưới 6 tuổi sẽ được chính phủ Việt Nam cho hưởng quy chế bảo hiểm y-tế hoàn toàn miễn phí.
(http://www.vnexpress.net/Vietnam/Doi-song/2006/04/3B9E8F40/)

Tuy nhiên cách áp dụng thay đổi tùy bệnh viện. Hiện nay các em điều trị ở BV Nhi Đồng 1, TPHCM được miễn 100% viện phí nếu gia đình có hộ khẩu ở các tỉnh phía nam Gia Lai, Đắk Lắk. Tại Viện Nhi TW, các em cũng được miễn phí 100%.

Hiện nay BV Nhi Đồng 1, TPHCM, đã có kinh nghiệm với chương trình bảo hiểm y tế này. Thông thường các em sẽ được cấy loại máy VVIR hay AAIR với dây điện cực với cố định chủ động đầu vít để có thể tháo ra nếu cần khi lớn lên. Các em bé dưới 10 kg thì thường sẽ phải dùng dây thượng tâm mạc cấy phía ngoài tim vì tĩnh mạch các em này quá nhỏ. Chúng tôi có thể cung cấp đầy đủ các loại dây điện cực cho các em.

Vì các em cần nhịp cao, thường là 90-100 lần/phút trong khi người lớn chỉ cần nhịp 60-70 lần/phút, nên thời gian hoạt động của máy tạo nhịp sẽ bị rút ngắn lại. Máy Talos SR với pin lớn vẫn có được thời gian hoạt động 4-5 năm với điện cực thượng tâm mạc (người lớn đạt được 10 năm với điện cực tĩnh mạch). Đến khi đến thời kỳ thay máy, nếu có điều tiện, thì nên đổi sang máy hai buồng để các em có một cuộc sống bình thường như các bạn cùng trang lứa. 

Nếu các em lớn (tim đã trưởng thành) chỉ bị blốc  nhĩ-thất thì máy thích hợp nhất là máy loại VDDR chỉ cần một dây điện cực mà có thể bắt được nhịp xoang ở nhĩ và truyền xuống thất. Nếu các em chỉ bị suy nút xoang mà không bị blốc thi máy một buồng AAIR với dây nhĩ là đủ. Còn nếu nút xoang không tốt và bị blốc thi nên dùng DDDR. Nhịp thích ứng rất quan trọng để các em có thể vận động được để có một cuộc sống bình thường.

Đối với các em trong lứa tuổi 6 đến 18 mà gia đình có hoàn cảnh khó khăn, chúng tôi có thể liên hệ với một số hội từ thiện và nhà hảo tâm để có thể giúp đỡ các em trong vấn đề điều trị. Hãy liên lạc qua e-mail (nwspi@comcast.net) với chúng tôi hoăc liên lạc với đại diện chung tôi qua bác sĩ điều trị.

 Bài mới được cập nhật

Trở lại Mục Lục
Vì đoạn này khá dài nên chung tôi đã đưa qua trang khác. Bạn hãy bấm vào link trên để tới trang mới.






Bạn có thể liên lạc với chúng tôi qua e-mail về địa chỉ lienlac@tamthuvn.com. Chúng tôi sẽ trả lời  bạn trong thời gian ngắn nhất. Cám ơn bạn đã ghé thăm trang web của Northwest Signal Processing.


Số lượt truy cập: visitor


Cập nhật:  16/08/2010                Copyright NWSPI 2007 - 2010